Ghé chùa ngày rằm, nhiều khi chưa thấy tượng đã nghe mùi trầm. Cái mùi ấm, hơi ngọt, thoảng chút cay của khói khiến người ta tự nhiên bước nhẹ lại, nói khẽ đi. Ở shop, mình hay gặp cô chú hỏi: vì sao đạo Phật chuộng trầm hương đến vậy? Bài này xin kể gọn những điều mình biết, theo cách dễ hiểu nhất. Trầm hương là gì mà quý vậy? Trầm không phải một loài cây riêng. Nó là phần gỗ của cây dó bầu sau khi cây bị thương — sét đánh, sâu đục, hay vết chặt — tiết nhựa để tự chữa lành. Lớp nhựa ấy tích năm này qua năm khác, quyện vào thớ gỗ mà thành trầm. Người trong nghề hay nói vui: trầm là vết thương biết tỏa hương. Vì phải chờ cả chục năm, có khi vài chục năm, nên trầm tự nhiên mới quý. Trầm Khánh Hòa, Quảng Nam là hai vùng nổi tiếng ở nước mình; mỗi vùng cho mùi hơi khác nhau, quen rồi sẽ nhận ra. Ý nghĩa của trầm hương trong đạo Phật Một trong sáu món cúng dường Hương, hoa, đăng, trà, quả, thực — hương đứng đầu sáu món dâng cúng quen thuộc. Nén hương thắp lên trước Phật là lời chào cung kính, là cách người tại gia bày tỏ lòng thành mỗi sớm tối, ngày rằm, mùng một. Hương của người đức hạnh Kinh Pháp Cú có câu, ý rằng: hương các loài hoa không bay ngược gió, chỉ hương người đức hạnh mới ngược gió bay xa. Người xưa mượn khói trầm để tự nhắc: đốt trầm cho thơm nhà thì dễ, sống sao cho "thơm" mới khó. Nén trầm trên bàn thờ vì thế không phải để cầu xin, mà để nhắc mình. Khói trầm giúp lắng tâm Mùi trầm trầm ấm, không gắt. Ngồi tụng kinh, ngồi thiền hay chỉ đọc sách bên lư trầm chừng mươi phút, tự nhiên thấy nhịp thở chậm lại. Không phải chuyện huyền bí gì — ai thử rồi sẽ tự cảm nhận. Dùng trầm trong nhà thế nào? Thờ cúng ngày rằm, giỗ chạp, khai trương: dùng nhang cây trầm hương Khánh Hòa — loại này cháy được tới 3 tiếng, trọn một buổi lễ không phải thắp lại. Ngồi thiền, uống trà: đốt một nụ trầm tự nhiên (mỗi nụ cháy 15–20 phút, vừa một thời công phu ngắn). Ai thích ngắm khói đổ như thác thì kết hợp thác khói bàn tay Phật đặt bàn trà. Xông nhà cuối năm, dọn về nhà mới: bột trầm Khánh Hòa đốt trên than, khói tỏa đều từng góc nhà. Thưởng trầm đậm vị hơn: trầm miếng Khánh Hòa hoặc trầm vân mây Quảng Nam xông bằng lư điện — không khói, chỉ có mùi, hợp nhà có người lớn tuổi. Cô chú anh chị muốn xem tận mắt từng loại thì ghé kệ trầm hương của shop, món nào cũng ghi rõ nguồn và cách dùng. Vài lưu ý khi mua và dùng trầm Trầm thật mùi dịu, tắt rồi vẫn còn thơm nhẹ trong phòng. Nhang tẩm hóa chất thơm sốc lúc đốt, hắc cổ, tắt là hết mùi — ngửi vài lần sẽ phân biệt được. Không cần đốt nhiều. Một nụ nhỏ đủ thơm căn phòng 15–20m². Dùng lư, đĩa chịu nhiệt; đặt xa rèm màn. Nhà có con nít thì để trên cao. Người nhạy mùi nên bắt đầu bằng loại khói nhẹ, hé cửa sổ khi đốt. Hỏi nhanh đáp gọn Đốt trầm hằng ngày có sao không?Không sao, miễn phòng thoáng. Nhiều nhà đốt một nụ mỗi sáng như thói quen bắt đầu ngày mới. Trầm Khánh Hòa và Quảng Nam khác nhau chỗ nào?Khác vùng nguyên liệu nên mùi khác nhau: Khánh Hòa ngọt đậm, Quảng Nam thanh nhẹ hơn. Chuyện gu, không có loại nào "hơn" loại nào. Mới tập dùng trầm nên bắt đầu từ đâu?Một hộp nụ tầm 45–80 ngàn cộng cái đế cắm vài chục ngàn là đủ. Đừng vội mua món đắt khi chưa biết gu mình. Lời kết Hương trầm không làm ai thành người tốt hơn — nhưng nó nhắc mình dừng lại một nhịp giữa ngày bận. Nếu đã có nụ trầm ở nhà, đọc tiếp bài cách đốt trầm nụ cho cháy đều, thơm lâu. Còn đang phân vân giữa nụ và nhang cây thì bài so sánh trầm nụ và nhang trầm sẽ giúp cô chú anh chị chọn đúng ngay từ đầu.
1. Nguồn gốc, ý nghĩa của bảo binhg Đức Liên Hoa Sanh giới thiệu bảo bình đến Tây Tạng từ những ngày đầu Ngài đến xứ sở này để hoằng Pháp độ sanh. Ngày nay, truyền thống làm bảo bình để cúng dường chư Phật vẫn được bảo tồn và được các vị Đạo sư hướng dẫn lại cho môn đệ. Có nhiều loại bảo bình như bảo bình Địa Tạng, bảo bình Đạo Sư, bảo bình Cát Tường, bảo bình Vô Lượng Thọ, bảo bình Chuẩn Đề, bảo bình Hoàng Thần Tài… Tùy theo nhân duyên và mục đích thờ cúng mà mỗi gia đình có thể thờ cúng một hoặc nhiều bảo bình. Dưới sự chỉ dạy của Đạo Sư, đội ngũ Siêu Thị Đại Bồ Đề Tâm nhiều năm nay dụng tâm để tạo nên những chiếc bảo bình Địa Tạng (hay còn gọi là Địa Bình, tên tiếng Phạn là Sanying Tenma Drakdrub) nhằm tạo nhân duyên để quý khách hàng có cơ hội tích luỹ phước báu, tăng trưởng trí tuệ, thành tựu mọi sở cầu sở nguyện khi thỉnh Pháp bảo trân quý này. Diệu dụng thù thắng này đến từ ân đức gia trì mạnh mẽ của một vị Đại Bồ Tát – Ngài Địa Tạng Bồ Tát. 2. Bồ Tát Địa Tạng và hạnh nguyện của Ngài Địa Tạng Bồ Tát có lời nguyện cứu độ tất cả chúng sinh trong lục đạo luân hồi vào thời kỳ sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni nhập Niết bàn cho đến khi Bồ Tát Di Lặc hạ sinh. Địa Tạng Bồ Tát tượng trưng cho tinh túy của đất, là Tâm Địa, Tánh Tạng, là nơi mà mọi chúng sinh đều phải từ đó mà sinh trưởng cả về thể vật lý lẫn tánh linh của mình. “Địa” là dày chắc, “Tạng” là đủ chứa, “Địa Tạng” là sâu dày, đủ chứa muôn vàn khổ đau của chúng sinh. Bổn nguyện của Ngài rộng sâu, dũng mãnh như sau: Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật Chúng sanh độ tận, phương chứng Bồ Đề Nghĩa là: Nếu địa ngục vẫn còn chúng sanh thì Ngài nhất quyết không thành Phật. Hạnh nguyện vĩ đại của Bồ Tát Địa Tạng được “chư Phật ba đời đồng khen ngợi. Mười phương Bồ Tát chung tin tưởng” (theo Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện). 3. Lợi ích của Địa Bình Khi thờ đúng cách và có niềm tin thanh tịnh tuyệt đối, Địa Bình sẽ giúp cho gia chủ: – Tăng trưởng tài vượng cho loài Người, chư Thiên, và chư tộc Rồng; – Làm cho mùa màng tươi tốt, thu hoạch dồi dào mang lại sự phú quý; – Hóa giải năng lượng tiêu cực quanh vùng đất thờ bảo bình; – Tích tập phước báu giúp Cửu huyền thất tổ siêu thăng; – Bạt trừ mọi chướng ngại, tiêu tan định nghiệp, thành tựu mọi ước nguyện, sở hành tăng trưởng, thân tâm an lạc, mọi sở cầu sở nguyện đều viên mãn rốt ráo, dứt trừ và đẩy lùi mọi đau khổ trong luân hồi sanh tử. 4. Chất liệu làm nên bảo bình Bảo bình Địa Tạng được làm từ các loại chất liệu trân quý dùng để dâng cúng dường Bổn Tôn. Các loại chất liệu này tượng trưng cho: Mandala, Thân, Khẩu, Ý của Bồ Tát. Đặc biệt, bảo bình còn có ngọc Dzi sâu tuổi. Ngọc Dzi được mệnh danh là pháp khí của chư Thiên, quý hơn bất cứ loại châu báu, kim cương nào trên đời. Bảo bình được làm bởi những hành giả có lực tu tập vững vàng, tinh tấn. Khi làm, hành giả khởi Bồ Đề Tâm vô lượng thương tưởng chúng sanh khắp cõi, gửi gắm vào bảo bình những sự gia trì thanh tịnh. Chính vì chứa đựng những gì tốt nhất, quý giá nhất mà một người có thể tìm thấy để cúng dường chư Phật (nhân) nên người thờ cúng bảo bình cũng nhận được những năng lực gia trì vi diệu (quả). 5. Cách thờ cúng bảo bình Trong truyền thống Tây Tạng, vào những dịp đặc biệt như sinh nhật, đám cưới, lễ khai trương, lễ động thổ người ta hay tặng nhau bảo bình như một lời chúc thành tâm về sự hạnh phúc, bình an, thịnh vượng và trường thọ đến người nhận. Bảo bình nên được thờ cúng nơi thanh tịnh, trang nghiêm như trên bàn thờ, hoặc những nơi cao ráo, sạch sẽ. Quý khách có thể cúng dường bảo bình đèn bơ để được khai sáng tâm thức và để “đốt cháy” những cấu uế, phiền não của bản thân. Lưu ý: Quý khách nên đặt bảo bình vào hộp kín hoặc bọc trong vải kín để người lạ không khởi tâm phiền não, nghi ngờ, đố kỵ hoặc tò mò về bảo bình....
1. Lịch sử hình thành và ý nghĩa của Bảo Tháp Theo lịch sử Phật giáo, Bảo Tháp đã xuất hiện từ khi Đức Phật còn tại thế. Khi ấy, Ngài Xá Lợi Phất viên tịch để lại rất nhiều xá lợi. Các vị Tăng khác thờ xá lợi của Ngài trong Tăng xá để dân chúng khắp nơi đến chiêm bái, tưởng niệm. Tuy nhiên, thỉnh thoảng Tăng xá có việc không thể tiếp đón làm cho người dân rất buồn sầu, khổ não. Nhân duyên ấy, Đức Phật dạy chúng Tăng nên xây dựng Bảo Tháp để chứa đựng xá lợi của những vị đã thị tịch. Bảo Tháp không chỉ chứa xá lợi Phật mà còn là nơi chứa đựng kinh điển, pháp khí, tranh tượng. Bảo Tháp cũng là một trong những đối tượng thiền quán, thường có nhiều ý nghĩa tượng trưng. Các bậc thang lên tháp biểu hiện cho các khái niệm Đại thừa, như bốn bậc là từ, bi, hỷ, xả hay mười bậc là Thập địa… 2. Câu chuyện xây dựng Bảo Tháp của Vua A-dục Vị vua nổi tiếng nhất trong lịch sử Ấn độ, vua A-dục, vì lòng sùng mộ và kính trọng sâu sắc với Đức Phật, đã phát nguyện xây dựng 84.000 Bảo Tháp để cúng dường lên chư Phật. Ngay sau khi việc xây 84.000 Bảo Tháp được hoàn thành thì có một điều mầu nhiệm thiêng liêng đã xảy ra. Đó là, khi đang đứng trong hoàng cung, Vua A-dục thình lình thấy xuất hiện cùng một lúc tất cả 84.000 ngôi Bảo Tháp và toàn thể cõi Diêm Phù Đề đã được trang hoàng lộng lẫy. Đây là điều thù thắng hi hữu mà việc thờ phụng Bảo Tháp đem lại cho người có phước duyên to lớn. Ngày nay, có một vài Bảo Tháp do Vua A-dục xây dựng vẫn còn được bảo tồn để thế hệ sau có dịp chiêm bái và học theo một tấm gương vĩ đại trong công cuộc hộ trì Tam Bảo, xiển dương Chánh Pháp. 3. Diệu dụng của việc xây dựng và thờ Bảo Tháp Mục đích của việc xây dựng Bảo Tháp là thể hiện niềm tri ân lên chư Phật, lên bậc Thầy giác ngộ. Xây dựng Bảo Tháp tạo nên những lợi lạc đặc biệt, giúp chúng sinh tịnh hóa nghiệp chướng, gieo hạt giống giải thoát, trưởng dưỡng những phẩm chất giác ngộ. Theo Kinh Đại Bảo Tích (Maharatnakuta Sutra), thì: “Không có sự khác biệt giữa công đức của những vị dâng cúng dường khi Ta còn sống với những vị cúng dường lên một Bảo Tháp sau khi Ta nhập diệt. Tại sao vậy? Bởi Đức Phật là sự hiển bày thanh tịnh của Pháp thân chứ không phải Hóa thân hay thân vật lý”. Điều này có nghĩa là, Bảo Tháp là biểu tượng của Tam Bảo, là đại diện tinh túy của Pháp thân Phật và là hiện thân của Đức Phật. Vì vậy xây dựng, cúng dường hay đi nhiễu quanh Bảo Tháp có lợi lạc không khác với khi cúng dường lên chư Phật. Trong Kinh kể rằng, vào thời Đức Phật Ca Diếp, có một chú lợn do bị chó đuổi đã chạy vòng quanh một Bảo Tháp. Trên mình chú lợn lấm lem bùn đất, trong khi chạy, chú vô tình trát thêm một lớp bùn lên Bảo Tháp. Nhờ công đức nhiễu tháp và xây dựng Bảo Tháp như vậy, kiếp sau chú lợn đó đã chứng đạt giác ngộ giải thoát. Có câu chuyện khác kể lại rằng, bảy con sâu đang làm tổ trên cành cây thì có một cơn gió mạnh đi qua thổi chúng rơi xuống suối. Dòng nước cuốn chúng trôi theo chiều kim đồng hồ xung quanh một Bảo Tháp cũng đang trôi nổi trên nước. Nhờ công đức nhiễu tháp này mà kiếp sau các chú sâu cũng đạt được giải thoát tối hậu. Hai câu chuyện trên đây đã tóm lược những diệu dụng thù thắng của việc đi nhiễu xung quanh Bảo Tháp. Ngoài những công đức trên, thì việc xây dựng, thờ phụng và đi nhiễu xung quanh Bảo Tháp đem lại nhiều lợi lạc như sau: - Nếu như bạn tạo ra được 1.000 Bảo Tháp, bạn có khả năng thông tỏ tất cả giáo pháp của chư Phật; - Sau khi chết, không bị sinh ở cõi giới thấp; - Bạn sẽ giống như mặt trời xuất hiện trên trái đất xua tan đi màn đêm trường vô minh bằng trí tuệ toàn tri và sắc thân hoàn hảo; - Bạn có khả năng nhớ được các kiếp trong quá khứ và biết được các kiếp trong tương lai; - Bạn có khả năng lắng nghe và ghi nhớ giáo pháp một cách dễ dàng; - Đức Phật đã dạy trong Vô Cấu...
Tám biểu tượng cát tường chính là tám pháp khí mang điềm cát tường, may mắn và năng lượng gia trì hoàn hảo. Khi tám biểu tượng này kết hợp với nhau tạo thành một tổng thể gọi là Trí Tuệ Bản Lai và cũng chính là hóa thân của Đức Phật. Tám món cát tường gồm: Lọng Bảo Cái, Song Ngư, Bảo Bình (Bình Báu), Hoa Sen, Ốc Tù Và, Cát Tường Kết, Tràng Phan Chiến Thắng và Pháp Luân (Bánh Xe Pháp Luân). Lọng Bảo Cái: Khi Đức Phạm Thiên thấy Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi thuyết pháp cho đệ tử dưới nắng nóng đã cầm một chiếc lọng với hai dải tua rua hai bên dâng cho Đức Phật dùng. Lọng Bảo Cái mang ý nghĩa của sự giác ngộ, xua tan phiền não trong tâm trí, dụng ý về sự chở che, xóa tan nghiệp chướng của Tam Bảo cho chúng sanh. Song Ngư: Là đôi cá vàng có vây ngọc dài, đôi mắt tròn sáng soi rõ vô minh. Loài cá với đặc tính không bao giờ nhắm mắt dù khi ngủ, là biểu tượng cho sự tỉnh thức, không xao nhãng và luôn linh hoạt. Cá vẫy vùng trong nước biểu tượng cho sự suôn sẻ không chướng ngại trong mọi việc. Cặp cá vàng cũng mang ý nghĩa lòng từ bi và trí tuệ luôn song hành cùng nhau. Bảo Bình (Bình Báu): Là bình dùng để đựng châu báu, các loại thuốc quý, hương, dược liệu, ngũ cốc,… Bình báu được tin rằng dù có lấy ra bao nhiêu thì bình vẫn luôn đầy. Điều này được ví như hành động bố thí và cúng dường, vật phẩm không mất đi mà sẽ chuyển thành phúc báu, chuyển hóa và tiêu trừ ác nghiệp, đẩy lùi ma chướng, khai sáng trí tuệ. Hoa Sen: Hoa sen sống và sinh trưởng ở nơi bùn nhơ nhưng vẫn không ngừng tỏa ngát hương thơm, tượng trưng cho sự vô nhiễm, thanh tịnh, là biểu tượng của Chân Như, là Phật Tánh trong mỗi chúng sanh. Ốc Tù Và: Mang ý nghĩa Pháp âm, hay là lời giảng của Đức Phật vang rộng, lan tỏa khắp mọi nơi, giúp chúng sinh thức tỉnh khỏi cõi vô minh khổ đau. Âm thanh của ốc tù và có thể xua đuổi tà ma, ngăn chặn thiên tai và khiến cho các loài độc hại phải kinh sợ. Trong các nghi lễ của Phật giáo Kim Cang Thừa, ốc tù và vừa được dùng như một nhạc cụ vừa được dùng để đựng nước cúng dường. Cát Tường Kết: Biểu hiện cho sự kết hợp viên mãn của từ bi và trí tuệ. Trong đời sống hằng ngày, có thể dễ dàng tìm thấy Cát Tường Kết được thắt từ những sợi chỉ bện chặt thành hình ảnh gần như là chữ “Vạn” mang ý nghĩa kết nối bền vững và may mắn trong mọi sự. Tràng Phan Chiến Thắng: Tượng trưng cho sự chiến thắng của Đức Phật trước Ma Vương, cũng có nghĩa là sự chiến thắng trước các phiền não, tiêu diệt tà môn và những tham ái, sân giận. Bánh Xe Pháp Luân: Bánh xe có tám nan chính là Bát chánh đạo, là con đường đưa đến sự Giải Thoát mà Đức Phật chỉ bày cho chúng sinh. Bánh xe Pháp luân tượng trưng cho Giáo Pháp của Ngài sẽ luôn được trao truyền và trải rộng khắp muôn phương vì lợi ích tất cả chúng sinh. Ngoài ra, trong đời sống, từ xa xưa, tám biểu tượng cát tường được vẽ, khắc, đúc… trên nhiều sản phẩm như tranh, tượng, trang sức, cúng phẩm hay vật dụng hằng ngày. Bất cứ nơi đâu có sự xuất hiện của tám biểu tượng cát tường, nơi đó có sự may mắn, thịnh vượng và mọi sự điều diễn ra như ý nguyện. Sử dụng các đồ vật có tám biểu tượng cát tường sẽ giúp người dùng gặp nhiều may mắn, thuận lợi, chuyển hóa chuyện xấu và có nhiều sức khỏe. Trong văn hóa nhiều nước quanh khu vực Hy Mã Lạp Sơn, người ta dựng cổng nhà, cửa, chuông mỏ… và luôn khắc biểu tượng cát tường như một cách để xua đuổi điềm dữ và cầu nguyện sự an vui cho gia đình mọi lúc. Đọc thêm Ý nghĩa trầm hương trong đạo Phật — hương cúng dường và sự lắng tâmBẢO THÁP - BIỂU TƯỢNG CỦA TỪ BI VÀ TRÍ TUỆ TRONG PHẬT THỪAGhé xem tôn tượng Phật – Bồ Tát tại Đại Bồ Đề Tâm.